Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã xuất khẩu 61.297 tấn quế, thu về 156,2 triệu USD và tiếp tục nằm trong nhóm nông sản gia vị có giá trị xuất khẩu hàng đầu. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu quế lần đầu tiên vượt mốc 300 triệu USD, khẳng định vị thế của Việt Nam là quốc gia dẫn đầu thế giới về giá trị xuất khẩu quế. Đằng sau những con số hàng trăm triệu USD ấy là một câu chuyện về một nông sản đặc biệt.

Cây quế là “linh hồn” của cộng đồng

Với nhiều cộng đồng người Dao, Tày, Mông hay các cư dân miền núi phía Bắc và Bắc- Trung Trung Bộ, quế không chỉ là một loại cây trồng. Đó là cây của tín ngưỡng, của ký ức gia đình, của lễ nghi truyền thống và của cả những cánh rừng gắn bó với đời sống cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Từ lâu, quế hiện diện trong các nghi lễ tâm linh, trong y học dân gian, trong bếp lửa gia đình và cả những dấu mốc quan trọng của đời người.

Đối với đồng bào Dao, quế gắn liền với đời sống tâm linh và vòng đời của mỗi con người. Người Dao dùng quế để làm hương (nhang) thắp trong các nghi lễ cúng tổ tiên, trong những bài thuốc chữa bệnh. Họ có tập quán trồng quế khi một đứa trẻ chào đời, hay trao tặng nương quế làm của hồi môn cho con cái khi lập gia đình.

Cây quế luôn hiện diện như biểu tượng của sự sinh sôi, no đủ và kết nối giữa con người với thiên nhiên. Chính vì được gìn giữ bằng niềm tin và phong tục qua nhiều thế hệ, những cánh rừng quế không chỉ là tài nguyên kinh tế mà còn là “di sản sống” của cộng đồng.

Từ di sản đến ngành hàng xuất khẩu

Nếu trước đây quế chủ yếu phục vụ nhu cầu tự cung tự cấp thì nay, nó bước vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Việc phát triển vùng nguyên liệu đạt chứng nhận hữu cơ, liên kết với doanh nghiệp chế biến và mở rộng thị trường xuất khẩu, đã đưa quế Việt Nam trở thành nguyên liệu quan trọng của ngành thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm và tinh dầu tại nhiều quốc gia.

Ở nhiều vùng trồng quế như huyện Văn Yên cũ của tỉnh Lào Cai, huyện Trà My cũ của Quảng Nam (nay là Đà Nẵng), hay huyện Quế Phong cũ thuộc tỉnh Nghệ An, cây quế từ lâu không đơn thuần là một loại cây lâm nghiệp mà đã nâng tầm thành thương hiệu và tạo ra sinh kế bền vững cho hàng chục nghìn hộ dân vùng cao.

Ít ai hình dung rằng Văn Yên - vùng đất từng được biết đến là một huyện miền núi còn nhiều khó khăn - nay đã trở thành “thủ phủ quế” của Việt Nam. Hơn 55.000ha quế phủ xanh toàn bộ địa bàn huyện, tạo nên chuỗi giá trị gần 1.000 tỷ đồng mỗi năm. Phủ kín toàn bộ 25 xã, thị trấn, không chỉ mở rộng vùng nguyên liệu, địa phương còn tiên phong xây dựng hơn 10.700ha quế đạt chứng nhận hữu cơ quốc tế (EU Organic, USDA). Tại đây cũng phát triển hệ thống 11 nhà máy chế biến cùng gần 150 doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia chuỗi giá trị.

Nhờ đó, quế không còn được bán dưới dạng nguyên liệu thô mà được chế biến thành tinh dầu, trà quế, sản phẩm OCOP... Chuỗi giá trị này mang về cho Văn Yên gần 1.000 tỷ đồng mỗi năm, giúp hàng nghìn hộ đồng bào Dao, Tày có nguồn thu nhập ổn định. Nhiều gia đình đạt doanh thu từ vài trăm triệu đến hàng tỷ đồng mỗi năm.

Cùng với sự khởi sắc của kinh tế, hạ tầng nông thôn cũng thay đổi mạnh mẽ khi hơn 90% đường giao thông được kiên cố hóa, những ngôi nhà kiên cố dần thay thế nhà tạm giữa các triền đồi quế, tạo nên diện mạo mới cho một vùng quê miền núi từng nhiều khó khăn.

Nếu Văn Yên là câu chuyện về sự bứt phá nhờ quy mô sản xuất, thì Trà My lại là minh chứng cho sức sống bền bỉ của một thương hiệu quế hàng trăm năm tuổi.

“Của để dành” của người vùng cao

Có lẽ tác động rõ nhất của ngành quế nằm ở đời sống của người dân.

Ở nhiều địa phương, quế được ví như “của để dành”. Khác với nhiều cây trồng phải thu hoạch một lần, cây quế cho phép người dân khai thác từng phần - từ lá, cành, vỏ đến gỗ - tạo nguồn thu ổn định trong nhiều năm.

Nhờ nguồn thu từ quế, nhiều hộ gia đình có điều kiện xây nhà, mua sắm phương tiện sản xuất, đầu tư cho con cái học hành hay chi trả các khoản chi tiêu lớn trong cuộc sống. Quan trọng hơn, cây quế giúp đồng bào miền núi từng bước thoát nghèo một cách bền vững mà vẫn gắn bó với quê hương, không phải rời bản làng để tìm sinh kế.

Cây quế còn góp phần gìn giữ các giá trị truyền thống. Khi đời sống kinh tế được cải thiện, người dân có điều kiện duy trì các lễ hội truyền thống, bảo tồn trang phục dân tộc, gìn giữ các nghi lễ như Lễ Cấp Sắc của người Dao hay tiếp tục bảo vệ những cánh rừng quế cổ. Thu nhập từ quế cũng giúp cộng đồng đầu tư xây dựng nhà văn hóa, đường giao thông nông thôn và các công trình phục vụ đời sống chung.

Bên cạnh giá trị kinh tế, rừng quế còn góp phần phủ xanh đất trống, giữ nước, chống xói mòn, hạn chế sạt lở và tạo nên hệ sinh thái bền vững cho vùng trung du, miền núi.

Câu chuyện của cây quế Việt Nam cho thấy một hướng phát triển đáng chú ý của nông nghiệp hiện đại: lấy văn hóa làm nền tảng để tạo ra giá trị kinh tế. Khi tri thức bản địa được tôn trọng, tập quán canh tác truyền thống được chuẩn hóa thành tiêu chuẩn quốc tế và cộng đồng địa phương trở thành chủ thể của chuỗi giá trị, vốn văn hóa không còn chỉ là di sản cần bảo tồn mà đã trở thành nguồn lực để phát triển.

Hành trình của cây quế vì thế không chỉ là câu chuyện của một mặt hàng xuất khẩu. Đó còn là minh chứng, rằng những giá trị văn hóa lâu đời, nếu được gìn giữ và khai thác đúng cách, hoàn toàn có thể trở thành động lực cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống người dân và góp phần phát triển bền vững các vùng nông thôn, miền núi của Việt Nam.