1. Tổng quan tình hình sản xuất và vùng nguyên liệu

Trong 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam tiếp tục duy trì vị thế dẫn đầu thế giới về diện tích và sản lượng quế thô. Các địa phương trọng điểm ở vùng núi phía Bắc và miền Trung đang tích cực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu vùng trồng sang hướng hữu cơ (Organic) nhằm tăng năng lực cạnh tranh quốc tế.

  • Diện tích: Tổng diện tích canh tác quế cả nước ổn định ở mức 170.000 - 180.000 ha. Trong đó, vùng nguyên liệu trọng điểm lớn nhất tập trung tại tỉnh Yên Bái (gần 80.000 ha) và tỉnh Lào Cai (khoảng 50.000 - 55.000 ha).
  • Sản lượng: 6 tháng đầu năm là thời điểm chính thu hoạch vụ Xuân (vụ quế chính từ tháng 3 đến tháng 5). Sản lượng vỏ quế khô thu hoạch toàn quốc đạt ước tính trên 40.000 tấn. Đi kèm với đó, nguồn sinh khối phụ phẩm (gồm lá quế, cành, ngọn tỉa thưa) đạt khoảng hàng trăm nghìn tấn, phục vụ cho hoạt động chưng cất tinh dầu tại các cơ sở chế biến.

2. Kết quả hoạt động xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2026

Sau giai đoạn quý I/2026 có mức tăng trưởng khá ấn tượng (kim ngạch xuất khẩu quế tháng 1/2026 đạt 22,4 triệu USD), hoạt động xuất khẩu quế bước sang quý II và đặc biệt là tháng 6/2026 có xu hướng tăng trưởng chậm lại do tác động từ suy giảm nhu cầu tiêu thụ và các hàng rào kỹ thuật.

2.1. Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu

Dựa trên số liệu tổng hợp từ Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam (VPSA):

  • Tổng khối lượng xuất khẩu: Đạt 61.297 tấn quế các loại.
  • Tổng kim ngạch xuất khẩu: Đạt 156,2 triệu USD. So với cùng kỳ năm 2025, xuất khẩu quế ghi nhận mức giảm nhẹ khoảng 3,4% về lượng và 3,2% về giá trị.

2.2. Thị trường xuất khẩu chính

  • Khu vực châu Á: Chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 68,5% thị phần (tương đương 42.008 tấn), trong đó Ấn Độ vẫn là quốc gia nhập khẩu vỏ quế thô lớn nhất của Việt Nam.
  • Khu vực Âu - Mỹ: Cho thấy những tín hiệu tích cực ở phân khúc chất lượng cao nhờ xu hướng tiêu dùng sản phẩm hữu cơ tại thị trường Hoa Kỳ và EU. Riêng thị trường Hoa Kỳ ghi nhận tăng trưởng khối lượng nhập khẩu tốt trong tháng 6/2026.

3. Các khó khăn cốt lõi trong xuất khẩu vỏ quế

  • Rào cản kỹ thuật khắt khe: Các thị trường nhập khẩu khó tính như EU, Mỹ liên tục thắt chặt các quy chuẩn chất lượng, đặc biệt là giới hạn hàm lượng Coumarin tự nhiên có sẵn trong quế Cassia Việt Nam, cùng với việc kiểm soát ngặt nghèo các dư lượng kim loại nặng (như chì) từ nguồn đất và nước.
  • Biến động logistics: Giá cước vận tải biển quốc tế liên tục neo ở mức cao do biến động địa chính trị, làm giảm tính cạnh tranh của quế Việt Nam so với quế của một số nước đối thủ.

4. Tiêu điểm: Khó khăn đặc thù của tinh dầu quế xuất khẩu sang Trung Quốc

Mặt hàng tinh dầu quế (sản phẩm chế biến tận dụng từ lá và cành quế) hiện đang gặp phải khó khăn lớn nhất và bị tắc nghẽn nghiêm trọng, chủ yếu xoay quanh thị trường Trung Quốc và rào cản pháp lý nội địa.

Thực trạng tồn đọng

Ước tính cả nước sản xuất khoảng 2.000 tấn tinh dầu quế mỗi năm, trong đó khoảng 80% sản lượng thô xuất khẩu trực tiếp sang Trung Quốc. Tính đến cuối 6 tháng đầu năm 2026, lượng tinh dầu quế tồn kho tại hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái chạm mốc hơn 300 tấn (trong đó Lào Cai tồn hơn 200 tấn, Yên Bái tồn gần 100 tấn), khiến hàng trăm tỷ đồng của các doanh nghiệp, hợp tác xã chưng cất bị đóng băng.

Nguyên nhân do khó khăn đặc thù từ phía thị trường Trung Quốc

  • Sức mua nội địa Trung Quốc sụt giảm: Nền kinh tế Trung Quốc bước vào năm 2026 với đà phục hồi chậm, sức mua tiêu dùng nội địa ở các phân khúc sử dụng hương liệu (như thực phẩm, đồ uống, mỹ phẩm bình dân) sụt giảm nhẹ. Điều này khiến các nhà nhập khẩu Trung Quốc giảm số lượng thu mua tinh dầu thô.
  • Bị ép giá do chất lượng không đồng đều: Việt Nam chủ yếu xuất khẩu tinh dầu quế thô sang Trung Quốc. Do nước ta có hàng chục cơ sở chưng cất thủ công khác nhau tại Lào Cai, Yên Bái nên độ tinh khiết và nồng độ hoạt chất (cinnamaldehyde) chưa đồng đều. Nắm được yếu điểm này, phía thương nhân Trung Quốc liên tục dìm giá thô xuống rất thấp khiến doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu không có lời, thậm chí lỗ vốn.
  • Vấn đề cạnh tranh nguồn gốc: Trung Quốc hiện cũng tự chủ được một phần diện tích trồng quế lớn tại vùng Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây). Trong bối cảnh nguồn cung nội địa của họ dồi dào và các yêu cầu về nhập khẩu biên giới ngày càng được siết chặt quản lý theo hướng chính ngạch, việc đưa tinh dầu quế Việt Nam sang đây gặp nhiều trở ngại về mặt khai báo thủ tục.

Vướng mắc pháp lý nội địa tạo thêm áp lực

Bên cạnh khó khăn từ phía Trung Quốc, việc thông quan tinh dầu quế thô của Việt Nam còn vấp phải rào cản hành chính trong nước khi mặt hàng này đang bị áp quy chế quản lý nghiêm ngặt giống như kinh doanh dược liệu (theo Thông tư của Bộ Y tế). Doanh nghiệp muốn xuất khẩu phải đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về y tế, trong khi khách hàng Trung Quốc chỉ nhập về làm nguyên liệu công nghiệp thông thường. Sự chênh lệch này khiến việc xuất khẩu thô chính ngạch bị đình trệ kéo dài.

5. Kiến nghị và giải pháp đề xuất

Để tháo gỡ điểm nghẽn cho ngành quế, đặc biệt là hướng đi cho tinh dầu quế sang thị trường Trung Quốc và thế giới trong 6 tháng cuối năm 2026:

  • Về phía cơ quan Nhà nước: Kiến nghị Bộ Y tế phối hợp Bộ Công Thương nhanh chóng bóc tách và phân loại mục đích sử dụng của tinh dầu quế khi xuất khẩu. Nếu doanh nghiệp xuất khẩu sang Trung Quốc làm nguyên liệu thực phẩm/hương liệu thông thường thì cần áp cơ chế thông quan thông thường thay vì dược liệu để nhanh chóng giải phóng lượng hàng tồn kho.
  • Về phía doanh nghiệp (chuyển dịch xuất khẩu sâu): Thay vì phụ thuộc quá lớn (80%) vào kênh xuất khẩu thô giá rẻ sang Trung Quốc, doanh nghiệp cần đầu tư dây chuyền tinh lọc, nâng cao độ tinh khiết đạt tiêu chuẩn đơn hương quốc tế nhằm xuất khẩu sang các thị trường cao cấp như EU, Nhật Bản, Mỹ.
  • Liên kết chuỗi giá trị: Chuẩn hóa quy trình chưng cất từ nguyên liệu đầu vào tại các hợp tác xã nhằm tạo ra chất lượng tinh dầu đồng đều, hạn chế tối đa việc bị đối tác ép giá trên thị trường.